Bỏ qua tới nội dung
LSLab

Dịch chuyển lượng tử cần kênh cổ điển ra sao?

  • Cơ bản
  • Bài viết
  • Từ 14 tuổi
  • 6 phút đọc
Hai trạm quang học tách biệt, có bộ chia chùm, máy dò và dây quang nối giữa.

Dịch chuyển lượng tử cần kênh cổ điển vì kết quả phép toán của người gửi là ngẫu nhiên, và người nhận chỉ biết cách sửa photon của mình khi nhận được kết quả đó. Cặp hạt rối lo phần trạng thái lượng tử. Một bản tin thông thường, như đường dây điện thoại, mang phần còn lại.

Mục lục
Trạng thái đi sang phía kia nhờ hai thứ: mối liên hệ rối và một bản tin thông thường.
  • Phía Alice, nơi có trạng thái cần chuyển
  • Phía Bob, chưa có trạng thái
  • Bản tin thông thường (mũi tên liền)
  • Hai ô vuông: hai bit thông tin
  • Mối liên hệ rối (nét đứt)

Bạn sẽ học được gì

Cần biết trước

Nên đọc trước bài Rối lượng tử là gì?. Mọi thuật ngữ khác được giải thích ngay trong bài.

Dịch chuyển lượng tử bắt đầu từ đâu?

Dịch chuyển lượng tử bắt đầu từ một cặp hạt rối mà hai người chia nhau. Theo Bách khoa toàn thư Triết học Stanford, Alice và Bob chia sẻ một trạng thái rối thuần, ví dụ hai photon rối về phân cực. Alice giữ một photon của cặp, Bob giữ photon còn lại.

Sau đó Alice nhận thêm một photon ở trạng thái phân cực mà không ai biết. Đó là trạng thái cần “chuyển” sang phía Bob.

Nguồn Stanford cho biết ý tưởng này lần đầu được đề xuất năm 1993 bởi Bennett cùng đồng nghiệp.

Alice giữ cả trạng thái cần chuyển lẫn một nửa cặp rối, còn Bob giữ nửa kia.
  • Khung của Alice
  • Khung của Bob
  • Trạng thái cần chuyển (tam giác)
  • Photon rối của Alice
  • Photon rối của Bob
  • Mối liên hệ rối (nét đứt)

Alice làm gì, và Bob nhận được gì?

Alice làm một phép toán lên hai photon trong tay, và Bob nhận photon của mình ở một trong bốn trạng thái. Theo nguồn Stanford, phép toán có bốn kết quả ngẫu nhiên có thể xảy ra, và photon của Bob bị đưa vào trạng thái tương ứng với kết quả đó.

Trạng thái ấy hoặc đã đúng là trạng thái cần có, hoặc liên hệ với nó theo một cách xác định. Bob chưa biết là trường hợp nào, vì kết quả của Alice là ngẫu nhiên.

Alice và Bob cần cặp rối đã chia từ trước cho giao thức này. Bản tin cổ điển không phải bản mô tả đầy đủ trạng thái chưa biết: nó chỉ cho Bob biết phép hiệu chỉnh cần áp dụng. Vì vậy không thể thay cặp rối bằng việc đọc photon của Alice rồi gọi điện mô tả nó.

Mỗi trong bốn kết quả của Alice ứng với một trong bốn trạng thái của photon bên Bob.
  • Phép toán của Alice
  • Bốn kết quả có thể xảy ra
  • Bốn trạng thái có thể của photon bên Bob

Vì sao phải có kênh cổ điển?

Vì Bob chỉ biết cách sửa photon sau khi biết Alice thu được kết quả nào. Theo nguồn Stanford, chỉ sau khi Alice báo kết quả phép toán cho Bob, Bob mới biết photon của mình đã đúng trạng thái hay cần biến đổi cục bộ ra sao.

Kết quả đó chỉ cần hai bit thông tin cổ điển, vì phép toán có bốn kết quả. Hai bit đi qua một kênh thông thường, loại như đường dây điện thoại.

Nếu thiếu bản tin đó, Bob chỉ có một photon ở một trong bốn trạng thái mà anh không biết là trạng thái nào.

Cuối cùng, Alice và Bob dùng trạng thái rối chung làm kênh truyền thông lượng tử để hủy trạng thái của một photon ở phía Alice và tạo lại nó ở phía Bob. Trạng thái đó vẫn chưa được biết với cả hai người.

Sau khi hai bit tới nơi, trạng thái được tạo lại ở phía Bob và không còn ở phía Alice.
  • Trạng thái đã bị hủy ở phía Alice
  • Bản tin hai bit đi qua kênh thông thường
  • Trạng thái được tạo lại ở phía Bob

Ví dụ trong đời sống

Hãy hình dung Alice ở Hà Nội và Bob ở Huế, hai người đã chia nhau cặp photon rối từ trước. Alice làm phép toán và được một trong bốn kết quả. Cô gọi điện đọc cho Bob hai bit tương ứng. Nghe xong, Bob biết phải giữ nguyên hay biến đổi photon của mình.

Đây là ví dụ giả định để minh họa thứ tự các bước, không phải mô tả một thiết bị cụ thể.

Stanford ghi nhận các thí nghiệm trên mặt đất và giữa mặt đất với vệ tinh. Những khoảng cách nêu trong một tài liệu là kết quả được tài liệu dẫn lại, không nên tự coi là kỷ lục hiện tại.

Trong hình chuyển động dưới đây, các khối cầu là các hệ có sẵn; màu và hướng dấu chỉ chỉ minh họa trạng thái. Khối nhỏ trên đường nối là bản tin cổ điển, không phải photon hay vật chất đang dịch chuyển.

Mô hình thứ tự teleportation: hệ nhận có sẵn và được hiệu chỉnh sau bản tin cổ điển; không có vật chất biến mất hay xuất hiện.

Hiểu lầm thường gặp

Dịch chuyển lượng tử không gửi người hay vật từ nơi này sang nơi khác. Theo nguồn Stanford, nó hủy trạng thái của một photon ở một phía và tạo lại ở phía kia.

Nó không diễn ra chỉ nhờ cặp rối. Bob chỉ dùng được photon sau khi nhận hai bit từ Alice qua kênh thông thường.

Sau khi dịch chuyển xong, trạng thái ban đầu vẫn chưa được biết với cả Alice và Bob. Họ không “đọc” được nó.

Câu hỏi thường gặp

Dịch chuyển lượng tử có tức thời không?

Không chỉ nhờ cặp rối. Bob phải chờ Alice báo kết quả phép toán qua kênh thông thường mới dùng được photon của mình.

Cần bao nhiêu thông tin cổ điển để dịch chuyển một trạng thái?

Hai bit, vì phép toán của Alice có bốn kết quả. Hai bit này chỉ báo phép hiệu chỉnh, không phải mô tả đầy đủ trạng thái photon.

Ai đề xuất dịch chuyển lượng tử?

Theo nguồn Stanford, Bennett cùng đồng nghiệp đề xuất ý tưởng lần đầu năm 1993.

Thí nghiệm ở xa có bỏ được kênh cổ điển không?

Không. Dù triển khai trên mặt đất hay qua vệ tinh, Bob vẫn cần nhận kết quả đo để biết cách hiệu chỉnh trạng thái.

Tóm tắt

  • Cặp rối chia sẵn lo phần trạng thái lượng tử, còn Alice báo kết quả phép toán qua kênh cổ điển.
  • Kết quả của Alice là một trong bốn khả năng ngẫu nhiên, cần hai bit để báo.
  • Dịch chuyển lượng tử hủy trạng thái ở một phía và tạo lại ở phía kia, và không gửi vật nào đi.

Thuật ngữ trong bài

Tên tiếng Việt, tên tiếng Anh và nghĩa dùng trong bài. Di chuột, chạm hoặc dùng phím Tab tới từ có gạch chân chấm để xem giải thích ngay khi đọc.

dịch chuyển lượng tửquantum teleportation
Quy trình dùng cặp rối và một bản tin thông thường để hủy trạng thái của một photon ở một phía và tạo lại ở phía kia.
kênh cổ điểnclassical channel
Đường truyền thông tin cổ điển, như đường dây điện thoại.
cặp rốientangled pair
Hai hạt ở trạng thái rối chung mà hai người chia nhau, mỗi người giữ một hạt.
bit
Đơn vị thông tin cổ điển nhận một trong hai giá trị.

Bài này chưa được đánh dấu là đã xem

Thấy nội dung sai hoặc chưa an toàn?

Báo cho quản trị viên qua email. Thư có sẵn tên bài và đường dẫn.

Báo lỗi bài này
  • Khối chia chùm sáng và các giá gương trên bàn quang học, với tia laser đỏ mảnh.
    Cơ bản

    Chồng chập lượng tử là gì?

    Hiểu trạng thái chồng chập, phép đo và qubit qua một thí nghiệm tưởng tượng; tránh hiểu nhầm có thể đọc mọi kết quả cùng lúc.

    5 phút đọc
  • Thiết bị bẫy ion và một bo nhớ nhỏ đặt trên bàn quang học sáng.
    Cơ bản

    Qubit khác bit như thế nào?

    So sánh bit và qubit theo trạng thái, phép đo và cách dùng; tránh hiểu nhầm qubit là ô nhớ chứa mọi đáp án có thể đọc ra đồng thời.

    3 phút đọc
  • Hai cấu trúc qubit trên chip nối với nhau bằng đường ghép kim loại.
    Cơ bản

    Cổng CNOT liên kết qubit điều khiển và đích ra sao?

    CNOT là cổng hai qubit đảo hoặc giữ nguyên qubit đích theo qubit điều khiển. Bài nêu vì sao nó là khối xây dựng và khác phép đo ở điểm nào.

    6 phút đọc
  • Các viên bi kim loại xếp thành hàng và cột đều nhau cạnh một gói chip nhỏ.
    Cơ bản

    Shor liên kết phân tích số với tìm chu kỳ ra sao?

    Shor quy việc phân tích số thành thừa số về tìm chu kỳ của một hàm tuần hoàn. Bài nêu các bước chính, ý nghĩa với RSA và vì sao chưa phá được mật mã.

    6 phút đọc
Xem tất cả bài của chủ đề

Nguồn

Các nguồn này viết cho người đọc lớn hơn. Nếu thấy khó, hãy đọc cùng người lớn.